Theo Điều 21, BLHS 1999, người che giấu tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật quy định. Tuy nhiên, trong BLHS 2015, đã nói đến một trường hợp ngoại lệ mà có thể xem đây là một bước thay đổi mang tính nhân văn. Đó là theo Khoản 2, Điều 18, BLHS 2015 thì nếu người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 cùng điều luật, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS 2015.

diem-moi-cua-bo-luat-hinh-su-2015-ve-van-de-che-giau-toi-pham
Ảnh minh họa

Hành vi che giấu tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi nó cản trở hoặc gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội. Bên cạnh đó, ở một chừng mực nhất định nó còn khuyến khích người phạm tội thực hiện tội phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường các chuẩn mực xã hội, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ công dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm của người có hành vi che giấu.

Tuy nhiên căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, tội che giấu tội phạm nói riêng và cũng xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của Bộ Luật hình sự, có tính đến truyền thống đạo đức và nghĩa vụ của những người có quan hệ thân thiết trong gia đình, Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung quy định nêu trên là hoàn toàn phù hợp. Bởi những người trong gia đình vốn có tình cảm sâu sắc, máu mủ ruột thịt nên khó có thể đưa ra được quyết định để người thân của mình phải rơi vào vòng lao lý

Mọi vấn đề thắc mắc giải đáp liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6110 để được Luật sư hỗ trợ kịp thời và chi tiết